Sáng nay là một sáng đầy may mắn của +Nguyễn Linh khi nhận được cùng lúc cả giấy phép lao động cho người nước ngoài và thẻ tạm trú cho người nước ngoài.
Các cá nhân làm cho các tổ chức, hoặc theo hợp đồng kinh tế là người
nước ngoài thì đều phải xin giấy phép lưu trú và giấy phép lao động mới
được sinh sống và lao động tại Việt Nam, hồ sơ thì rõ ràng là bằng ấy
thứ < click để xem
> nhưng không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng có thời gian để đi
xin giấy phép này, việc đó có thể đơn giản hơn nhiều nếu bạn liên hệ tới
Topiclaw và gặp bạn Hạnh, bạn ấy tư vấn trực tiếp mà !
Topiclaw cũng cung cấp dịch vụ gia hạn giấy phép lao động cho cá nhân là người nước ngoài đang lao động tại Việt Nam, các bạn có thể liên hệ tới Topiclaw để được tư vấn thêm nhé !
Chúc mọi người một ngày làm việc vui vẻ !
Luật Doanh Nghiệp
Chuyên trang luật doanh nghiệp của Nguyễn Quang Hiển, tôi học luật vì sở thích chứ không phải muốn trở thành một luật sư ! Cảm ơn các bạn đã ghé qua chơi !
Thứ ba, ngày 21 tháng năm năm 2013
Hỏi đáp luật doanh nghiệp
Một nơi dành cho các bạn thỏa mãn thắc mắc, được tư vấn bởi các chuyên viên đến từ Topiclaw, chuyên mục hỏi đáp luật doanh nghiệp của Topiclaw đã đạt được hiệu quả lớn trong việc tư vấn các thắc mắc liên quan tới sở hữu trí tuệ, công bố sản phẩm, thành lập doanh nghiệp và các vấn đề khác nữa.
Người quản lý +Nguyễn Quang Hiển một ngày trả lời hàng trăm câu hỏi, đây là một thành công lớn của Topiclaw trong việc đã tạo được môi trường tốt, một nơi để các bạn có thể đặt câu hỏi và nhận được câu trả lời chỉ trong 24h !
Người quản lý +Nguyễn Quang Hiển một ngày trả lời hàng trăm câu hỏi, đây là một thành công lớn của Topiclaw trong việc đã tạo được môi trường tốt, một nơi để các bạn có thể đặt câu hỏi và nhận được câu trả lời chỉ trong 24h !
Thứ năm, ngày 02 tháng năm năm 2013
Thành lập doanh nghiệp - nhanh gọn rẻ
Lựa chọn một công ty cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp để bạn đủ tin tưởng là điều khó, Topiclaw hiểu được bạn nhờ nhiều năm kinh nghiệm tư vấn thành lập doanh nghiệp cho hàng ngàn doanh nghiệp trong thời gian qua đáng để bạn phải lưu tâm với các thông tin sau:
Trước hết xin mời bạn nghiên cứu qua các vấn đề mà chúng tôi sẽ tư vấn, trường hợp bạn còn bất kỳ một thắc mắc nào có thể đăng câu hỏi cho chúng tôi.
Chọn tên khi thành lập doanh nghiệp
Topiclaw chuyên tư vấn các loại hình doanh nghiệp
Việc chọn một tên thật ấn tượng và dễ nhớ, nó sẽ là thương hiệu để phát triển lâu dài là việc làm khó cho các thương nhân tương lai. Việc lựa chọn tên cho doanh nghiệp phải không được trùng hay gây nhầm lẫn cho khách hàng cũng như các doanh nghiệp khác, Topiclaw sẽ giúp bạn tra cứu tên doanh nghiệp đã tồn tại hay chưa, chúng tôi cũng tư vấn cho bạn chọn một cái tên phù hợp nhất, dễ nhớ và dễ phát triển nhất, bạn có thể tham khảo thêm thông tin hướng dẫn đặt tên cho công ty.
Chọn loại hình cho doanh nghiệp khi thành lập
Loại hình doanh nghiệp tại nước ta rất đa dạng, bao gồm các loại hình chính như:
Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty tư nhân
Công ty hợp danh
Công ty liên doanh nước ngoài
Việc lựa chọn loại hình cho doanh nghiệp của bạn là tùy thuộc vào số người góp vốn, xu hướng phát triển hay đơn giản là bạn thích nó. Topiclaw sẽ tư vấn cho bạn một loại hình doanh nghiệpthích hợp nhất cho ngành nghề kinh doanh của bạn, theo sở thích hoặc bất cứ lý do nào khác.
Lựa chọn vốn điều lệ cho doanh nghiệp mới
Vốn điều lệ là mức vốn của doanh nghiệp do bạn quyết định, nhà nước sẽ không kiểm tra trừ khi đó là ngành nghề kinh doanh yêu cầu có vốn pháp định. Vốn điều lệ càng cao thì bạn phải đóng thuế môn bài hàng năm càng cao, nhưng lại thể hiện trách nhiệm cao hơn với doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp cũng như người góp vốn.
Thông tin thêm
Vốn điều lệ thành lập công ty tnhh
Vốn điều lệ ảnh hưởng tới các cổ đông thế nào
Thời hạn đóng góp vốn điều lệ
Cách điều chỉnh vốn điều lệ
Việc góp vốn vào doanh nghiệp là do thỏa thuận chung giữa bạn và các cộng sự, thời gian hoàn thành việc góp vốn cũng như hình thức góp vốn cũng vậy.
Đăng ký ngành nghề cho doanh nghiệp khi thành lập
Ngành nghề kinh doanh phải được đăng ký ở mã ngành cấp 4, việc tra cứu cũng như đăng ký mã ngành nghề là do Topiclaw soạn thảo cho bạn, dựa trên ngành nghề chính mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh, hoàn toàn do bạn quyết định.
Theo luật doanh nghiệp thì ngành nghề đăng ký là không hạn chế số lượng, nhưng khi bạn đăng ký các mã ngành nghề có điều kiện ( bao gồm điều kiện trước và điều kiện sau ) thì bạn cần phải bổ sung cùng hoặc sau các giấy tờ thỏa mãn mới được kinh doanh các ngành nghề đó, trường hợp doanh nghiệp có mở rộng kinh doanh chưa có mã trong giấy đăng ký kinh doanh thì bạn cần phải làm các thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.
Lưu ý: về trụ sở doanh nghiệp là không quan trọng, bạn có thể chọn bất kỳ một địa chỉ nào hợp lệ là được, không cần phải giấy tờ thuê mượn văn phòng.
Tại sao nên chọn Topiclaw để thành lập doanh nghiệp
Vì chúng tôi là rẻ nhất, dịch vụ thành lập doanh nghiệp trọn gói từ A tới Z, quý khách chỉ cần phải lo lắng cho bản kế hoạch kinh doanh sắp tới của mình mà thôi.
Vì sao chúng tôi rẻ nhất ? Chúng tôi cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp một năm sau thành lập, hơn thế nữa chúng tôi còn tư vấn cho quý vị các cách thức kê khai thuế ban đầu, miễn phí một năm tư vấn kế toán qua điện thoại của công ty.
Khách hàng không có điều kiện tới trụ sở có thể được chuyên viên của chúng tôi đến tận nơi tư vấn trực tiếp, khi quý khách sử dụng dịch vụ của chúng tôi một lần, lần hai trở đi sẽ được giảm giá 10% phí dịch vụ tiếp theo.
Liên hệ dịch vụ
Bạn có thể gọi ngay vào đường dây nóng của chúng tôi dưới chân trang, hoặc có thể nhận được sự trợ giúp của chúng tôi trực tiếp qua điện thoại cố định, hoặc linh hoạt hơn, bạn có thể gửi yêu cầu dịch vụ vào hòm thư của chúng tôi.
Nếu bạn có điều kiện đi lại, đừng ngần ngại tới trực tiếp trung tâm trợ giúp doanh nghiệp của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.
Chúc các bạn thành công, hãy liên hệ ngay tới dịch vụ của Topiclaw ngay hôm nay để được tư vấn cặn kẽ và giá thành rẻ nhất !
Trước hết xin mời bạn nghiên cứu qua các vấn đề mà chúng tôi sẽ tư vấn, trường hợp bạn còn bất kỳ một thắc mắc nào có thể đăng câu hỏi cho chúng tôi.
Chọn tên khi thành lập doanh nghiệp
Topiclaw chuyên tư vấn các loại hình doanh nghiệp
Việc chọn một tên thật ấn tượng và dễ nhớ, nó sẽ là thương hiệu để phát triển lâu dài là việc làm khó cho các thương nhân tương lai. Việc lựa chọn tên cho doanh nghiệp phải không được trùng hay gây nhầm lẫn cho khách hàng cũng như các doanh nghiệp khác, Topiclaw sẽ giúp bạn tra cứu tên doanh nghiệp đã tồn tại hay chưa, chúng tôi cũng tư vấn cho bạn chọn một cái tên phù hợp nhất, dễ nhớ và dễ phát triển nhất, bạn có thể tham khảo thêm thông tin hướng dẫn đặt tên cho công ty.
Chọn loại hình cho doanh nghiệp khi thành lập
Loại hình doanh nghiệp tại nước ta rất đa dạng, bao gồm các loại hình chính như:
Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty tư nhân
Công ty hợp danh
Công ty liên doanh nước ngoài
Việc lựa chọn loại hình cho doanh nghiệp của bạn là tùy thuộc vào số người góp vốn, xu hướng phát triển hay đơn giản là bạn thích nó. Topiclaw sẽ tư vấn cho bạn một loại hình doanh nghiệpthích hợp nhất cho ngành nghề kinh doanh của bạn, theo sở thích hoặc bất cứ lý do nào khác.
Lựa chọn vốn điều lệ cho doanh nghiệp mới
Vốn điều lệ là mức vốn của doanh nghiệp do bạn quyết định, nhà nước sẽ không kiểm tra trừ khi đó là ngành nghề kinh doanh yêu cầu có vốn pháp định. Vốn điều lệ càng cao thì bạn phải đóng thuế môn bài hàng năm càng cao, nhưng lại thể hiện trách nhiệm cao hơn với doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp cũng như người góp vốn.
Thông tin thêm
Vốn điều lệ thành lập công ty tnhh
Vốn điều lệ ảnh hưởng tới các cổ đông thế nào
Thời hạn đóng góp vốn điều lệ
Cách điều chỉnh vốn điều lệ
Việc góp vốn vào doanh nghiệp là do thỏa thuận chung giữa bạn và các cộng sự, thời gian hoàn thành việc góp vốn cũng như hình thức góp vốn cũng vậy.
Đăng ký ngành nghề cho doanh nghiệp khi thành lập
Ngành nghề kinh doanh phải được đăng ký ở mã ngành cấp 4, việc tra cứu cũng như đăng ký mã ngành nghề là do Topiclaw soạn thảo cho bạn, dựa trên ngành nghề chính mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh, hoàn toàn do bạn quyết định.
Theo luật doanh nghiệp thì ngành nghề đăng ký là không hạn chế số lượng, nhưng khi bạn đăng ký các mã ngành nghề có điều kiện ( bao gồm điều kiện trước và điều kiện sau ) thì bạn cần phải bổ sung cùng hoặc sau các giấy tờ thỏa mãn mới được kinh doanh các ngành nghề đó, trường hợp doanh nghiệp có mở rộng kinh doanh chưa có mã trong giấy đăng ký kinh doanh thì bạn cần phải làm các thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.
Lưu ý: về trụ sở doanh nghiệp là không quan trọng, bạn có thể chọn bất kỳ một địa chỉ nào hợp lệ là được, không cần phải giấy tờ thuê mượn văn phòng.
Tại sao nên chọn Topiclaw để thành lập doanh nghiệp
Vì chúng tôi là rẻ nhất, dịch vụ thành lập doanh nghiệp trọn gói từ A tới Z, quý khách chỉ cần phải lo lắng cho bản kế hoạch kinh doanh sắp tới của mình mà thôi.
Vì sao chúng tôi rẻ nhất ? Chúng tôi cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp một năm sau thành lập, hơn thế nữa chúng tôi còn tư vấn cho quý vị các cách thức kê khai thuế ban đầu, miễn phí một năm tư vấn kế toán qua điện thoại của công ty.
Khách hàng không có điều kiện tới trụ sở có thể được chuyên viên của chúng tôi đến tận nơi tư vấn trực tiếp, khi quý khách sử dụng dịch vụ của chúng tôi một lần, lần hai trở đi sẽ được giảm giá 10% phí dịch vụ tiếp theo.
Liên hệ dịch vụ
Bạn có thể gọi ngay vào đường dây nóng của chúng tôi dưới chân trang, hoặc có thể nhận được sự trợ giúp của chúng tôi trực tiếp qua điện thoại cố định, hoặc linh hoạt hơn, bạn có thể gửi yêu cầu dịch vụ vào hòm thư của chúng tôi.
Nếu bạn có điều kiện đi lại, đừng ngần ngại tới trực tiếp trung tâm trợ giúp doanh nghiệp của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.
Chúc các bạn thành công, hãy liên hệ ngay tới dịch vụ của Topiclaw ngay hôm nay để được tư vấn cặn kẽ và giá thành rẻ nhất !
Thứ ba, ngày 23 tháng tư năm 2013
Đăng ký kinh doanh
Với kế hoạch kinh doanh đã được soạn thảo chi tiết, giờ là lúc Bạn thành lập công ty để triển khai ý tưởng kinh doanh táo bạo của mình.
Riêng đối với việc đăng ký kinh doanh, Bạn không muốn mất nhiều thời gian vào các thủ tục hành chính rắc rối, phiền phức nên Bạn đang tìm kiếm một đối tác:
Chuyên nghiệp, uy tín có thể tư vấn vì lợi ích của chính khách hàng, với chi phí hợp lý.
Có khả năng tư vấn vốn, loại hình Doanh nghiệp phù hợp với mục đích hoạt động.
Có khả năng tư vấn xây dựng và quản lý hệ thống kế toán chuyên nghiệp, giúp Doanh nghiệp tránh bị phạt, và truy thu thuế.
Thay mặt Bạn soạn thảo tất cả các loại hồ sơ, hoàn tất việc đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.
Có sẵn mối quan hệ tốt với các cơ quan chủ quản để có thể hoàn tất các hồ sơ NHANH, hồ sơ KHÓ.
Chúng tôi là tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn thành lập mới công ty, thành lập mới doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, làm dịch vụ kế tóan, kiểm toán, dịch vụ thuế chuyên nghiệp.
Quý khách đang có nhu cầu đăng ký kinh doanh và đang băn khoăn nhiều vấn đề, cần người có đủ trình độ, bằng cấp, năng lực, kinh nghiệm thực hiện đăng ký kinh doanh để tư vấn, giải đáp các vướng mắc liên quan đến việc đăng ký kinh doanh.
Quý khách đang cân nhắc để lựa chọn một công ty chuyên cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh chuyên nghiệp, với thời gian giải quyết nhanh, thủ tục chính xác, cách thức phục vụ chuyên nghiệp, tận tâm, nhiệt tình, uy tín, giá cả hợp lý.
Thì việc lựa chọn dịch vụ “Đăng ký kinh doanh” của chúng tôi luôn là giải pháp tốt nhất, tối ưu nhất, có chi phí thấp nhất.
Nội dung công việc khi thực hiện dịch vụ đăng ký kinh doanh:
Hướng dẫn quý khách hàng cung cấp thông tin và các giấy tờ cần thiết
Tư vấn và hướng dẫn cho quý khách hàng lựa chọn ngành nghề kinh doanh
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng đặt tên công ty (tên tiếng Việt, Tiếng Anh, tên viết tắt)
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng lựa chọn địa điểm đặt trụ sở chính
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng lựa chọn quy mô vốn góp, hình thức góp vốn, cơ cấu tổ chức và quản trị công ty;
Thực hiện soạn thảo các biểu mẫu theo quy định của cơ quan đăng ký kinh doanh (Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, điều lệ, danh sách thành viên …) và nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh
Thực hiện việc khắc dấu, đăng ký và kê khai thuế với cơ quan thuế, mua hóa đơn lần đầu
Thực hiện việc đăng bố cáo thành lập trên báo theo quy định
Soạn thảo giấy chứng nhận góp vốn, sổ thành viên, thông báo góp đủ vốn …
Riêng đối với việc đăng ký kinh doanh, Bạn không muốn mất nhiều thời gian vào các thủ tục hành chính rắc rối, phiền phức nên Bạn đang tìm kiếm một đối tác:
Chuyên nghiệp, uy tín có thể tư vấn vì lợi ích của chính khách hàng, với chi phí hợp lý.
Có khả năng tư vấn vốn, loại hình Doanh nghiệp phù hợp với mục đích hoạt động.
Có khả năng tư vấn xây dựng và quản lý hệ thống kế toán chuyên nghiệp, giúp Doanh nghiệp tránh bị phạt, và truy thu thuế.
Thay mặt Bạn soạn thảo tất cả các loại hồ sơ, hoàn tất việc đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.
Có sẵn mối quan hệ tốt với các cơ quan chủ quản để có thể hoàn tất các hồ sơ NHANH, hồ sơ KHÓ.
Chúng tôi là tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn thành lập mới công ty, thành lập mới doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, làm dịch vụ kế tóan, kiểm toán, dịch vụ thuế chuyên nghiệp.
Quý khách đang có nhu cầu đăng ký kinh doanh và đang băn khoăn nhiều vấn đề, cần người có đủ trình độ, bằng cấp, năng lực, kinh nghiệm thực hiện đăng ký kinh doanh để tư vấn, giải đáp các vướng mắc liên quan đến việc đăng ký kinh doanh.
Quý khách đang cân nhắc để lựa chọn một công ty chuyên cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh chuyên nghiệp, với thời gian giải quyết nhanh, thủ tục chính xác, cách thức phục vụ chuyên nghiệp, tận tâm, nhiệt tình, uy tín, giá cả hợp lý.
Thì việc lựa chọn dịch vụ “Đăng ký kinh doanh” của chúng tôi luôn là giải pháp tốt nhất, tối ưu nhất, có chi phí thấp nhất.
Nội dung công việc khi thực hiện dịch vụ đăng ký kinh doanh:
Hướng dẫn quý khách hàng cung cấp thông tin và các giấy tờ cần thiết
Tư vấn và hướng dẫn cho quý khách hàng lựa chọn ngành nghề kinh doanh
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng đặt tên công ty (tên tiếng Việt, Tiếng Anh, tên viết tắt)
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng lựa chọn địa điểm đặt trụ sở chính
Tư vấn và hướng dẫn quý khách hàng lựa chọn quy mô vốn góp, hình thức góp vốn, cơ cấu tổ chức và quản trị công ty;
Thực hiện soạn thảo các biểu mẫu theo quy định của cơ quan đăng ký kinh doanh (Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, điều lệ, danh sách thành viên …) và nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh
Thực hiện việc khắc dấu, đăng ký và kê khai thuế với cơ quan thuế, mua hóa đơn lần đầu
Thực hiện việc đăng bố cáo thành lập trên báo theo quy định
Soạn thảo giấy chứng nhận góp vốn, sổ thành viên, thông báo góp đủ vốn …
Thứ năm, ngày 14 tháng ba năm 2013
Dịch vụ công bố thực phẩm
Topiclaw chuyên tư vấn công bố thực phẩm trong nước cũng như xuất khẩu, liên hệ ngay với đường dây nóng của chúng tôi để được tư vấn chi tiết.
Bản công bố tiêu chuẩn sản phẩm (theo mẫu).Hồ sơ công bố chất lượng thực phẩm lập thành 02 bộ, mỗi bộ gồm:
Bản Tiêu chuẩn cơ sở do thương nhân ban hành (có đóng dấu) (theo mẫu).
Giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm (theo mẫu).
Nhãn sản phẩm hoặc dự thảo nội dung ghi nhãn sản phẩm phù hợp với pháp luật về nhãn (có đóng dấu của thương nhân hoặc ký tên ghi rõ họ tên nếu thương nhân không có dấu).
Mẫu có gắn nhãn sản phẩm.
Phiếu kết quả kiểm nghiệm (gồm các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, chỉ tiêu chỉ điểm chất lượng, chỉ tiêu vệ sinh của thực phẩm công bố) do Phòng kiểm nghiệm được công nhận cấp (hoặc Phòng kiểm nghiệm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chỉ định). Riêng nước khoáng thiên nhiên phải có thêm phiếu kết quả xét nghiệm đối với nguồn nước.
Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân Việt Nam hoặc Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của công ty sản xuất nước ngoài (bản sao công chứng).
Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc (bản sao) (đối với các sản phẩm thuộc 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao).
Bản sao Giấy chứng nhận sở hữu nhãn hiệu hàng hóa (nếu có).
Đối với thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen, sản phẩm công nghệ mới hoặc trong thành phần có chứa nguyên liệu có nguồn gốc biến đổi gen, chiếu xạ trong hồ sơ công bố phải có bản sao giấy chứng nhận an toàn sinh học, an toàn chiếu xạ và thuyết minh quy trình sản xuất.
Bản sao biên lai nộp phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp số chứng nhận .
Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Topiclaw sẽ giúp bạn hoàn tất các thủ tục công bố chất lượng thực phẩm, quý doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm khi sử dụng dịch vụ của Topiclaw.
Liên hệ ngay với đường dây nóng để biết thêm chi tiết…
Đăng ký mã vạch mã số
Mã số mã vạch in trên sản phẩm giúp các nhà quản lý, các siêu thị dễ quản lý hàng hóa và cũng là một khâu quan trọng trong việc phân phối sản phẩm của bạn ra thị trường. Topiclaw gồm các chuyên gia tư vấn và các luật sư sẽ giúp quý bạn và các vị đăng ký mã vạch một cách nhanh nhất có thể, liên hệ ngay tới Topiclaw để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí.
Sau đây chúng tôi xin được trích một số tài liệu thông tin liên quan tới việc đăng ký mã vạch.
Mã vạch là gì
Mã số mã vạch là một trong những công nghệ nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động dựa trên nguyên tắc: đặt cho đối tượng cần quản lý một dãy số (hoặc dãy chữ và số), sau đó thể hiện dưới dạng mã vạch để máy quét có thể đọc được.
Trong quản lý hàng hoá người ta gọi dãy số và dãy vạch đó là mã số mã vạch (MSMV) của hàng hoá.
Mã số mã vạch đầu tiên được chế tạo và đưa vào sử dụng trên thế giới từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ 20.
Một ví dụ về Mã vạch của sản phẩm
Do yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại, công nghệ mã số mã vạch ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện, phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới. Năm 1973 tổ chức MSMV đầu tiên được thành lập, đó là Hội đồng mã thống nhất của Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC).
Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu âu (EAN) ra đời do sáng kiến của 12 nước Châu Âu, đến năm 1984 đổi thành EAN International, là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động trên cơ sở trung lập với mục đích chính là đẩy mạnh áp dụng hệ thống EAN trên toàn cầu trong tất cả các ngành kinh tế – xã hội nhằm cung cấp ngôn ngữ chung cho thương mại quốc tế (đặc biệt là thương mại điện tử. . .). Từ năm 2005, hai tổ chức EAN International và UCC hợp nhất thành một tổ chức phân định toàn cầu có tên là GS1.
Mã số GS1 (ví dụ như mã thương phẩm, viết tắt là GTIN) là một dãy chữ số nguyên, trong đó có các nhóm số để chứng minh về xuất xứ hàng hoá: đây là sản phẩm gì? do công ty nào xuất? công ty đó thuộc quốc gia nào?. Do cách đánh số như vậy, mỗi loại hàng hoá sẽ có dãy số duy nhất để nhận dạng đơn nhất trên toàn thế giới. Đây là một cấu trúc mã số tiêu chuẩn dùng để nhận dạng sản phẩm hàng hoá trên các quốc gia (vùng) khác nhau, tương tự như cấu trúc mã số điện thoại để liên lạc quốc tế.
Mã vạch GS1 (bar Code) là một dãy các vạch và khoảng trống song song xen kẽ được thiết kế theo một nguyên tắc mã hoá nhất định để thể hiện mã số (hoặc cả chữ lẫn số) dưới dạng các thiết bị đọc có gắn đầu Laser (Scanner) nhận và đọc được. Thiết bị đọc được kết nối với máy tính và mã vạch được giải mã thành dãy số một cách tự động, gọi ra tiệp dữ liệu liên quan đến hàng hoá đang lưu trữ trong cơ sở dữ liệu về sản phẩm hàng hóa.
Như vậy, mã số GS1 đóng vai trò “chìa khoá” để thu nhận và tra cứu dữ liệu một cách tự động.
Tích chất của mã vạch trên hàng hoá
Nó là con số duy nhất đặc trưng cho hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá được nhận diện bởi một dãy số và mỗi dãy số chỉ tương ứng với một loại hàng hoá.
Bản thân mã số chỉ là một dãy số đại diện cho hàng hoá, không liên quan đến đặc điểm của hàng hoá. Nó không phải là số phân loại hay chất lượng của hàng hoá, trên mã số cũng không có giá cả của hàng hoá.
Các hệ thống mã vạch
Hiện nay, trong thương mại trên toàn thế giới chủ yếu áp dụng hai hệ thống mã số hàng hoá sau:
Hệ thống UPC (Universal Product Code) là hệ thống thuộc quyền quản lý của Hội đồng mã thống nhất Mỹ UCC (Uniform Code Council, Inc.), được sử dụng từ năm 1970 và hiện vẫn đang sử dụng ở Mỹ và Canada.
Hệ thống EAN (European Article Number) được thiết lập bởi các sáng lập viên là 12 nước châu Âu với tên gọi ban đầu là Hội EAN (European Article Numbering Association), được sử dụng từ năm 1974 ở châu Âu và sau đó phát triển nhanh chóng, được áp dụng ở hầu hết các nước trên thế giới. Chính vì lý do này nên từ năm 1977, EAN trở thành một tổ chức quốc tế với tên gọi EAN quốc tế (EAN International)
Giới thiệu về hệ thống EAN
Trong hệ thống mã số EAN cho sản phẩm bán lẻ có hai loại, một loại sử dụng 13 con số (EAN-13) và loại kia sử dụng 8 con số (EAN-8)
Mã số EAN-13 gồm 13 con số có cấu tạo như sau: từ trái sang phải
Mã quốc gia: hai hoặc ba con số đầu
Mã doanh nghiệp: có thể gồm từ bốn, năm hoặc sáu con số
Mã mặt hàng: có thể là năm, bốn, hoặc ba con số tùy thuộc vào mã doanh nghiệp
Số cuối cùng là số kiểm tra
Để đảm bảo tính thống nhất và tính đơn nhất của mã số, mã quốc gia phải do tổ chức mã số vật phẩm quốc tế cấp cho các quốc gia là thành viên của tổ chức này. Mã số quốc gia của Việt Nam là 893. Danh mục mã số quốc gia của các nước trong phụ lục kèm theo.
Mã doanh nghiệp do tổ chức mã số vật phẩm quốc gia cấp cho các nhà sản xuất là thành viên của họ. ở Việt Nam, mã doanh nghiệp do EAN-VN cấp cho các doanh nghiệp thành viên của mình.
Mã mặt hàng do nhà sản xuất quy định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải đảm bảo mỗi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.
Số kiểm tra C là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra việc ghi đúng những con số nói trên.
Từ năm 1995 đến tháng 3/1998, EAN-VN cấp mã M gồm bốn con số và từ tháng 3/1998, theo yêu cầu của EAN quốc tế, EAN-VN bắt đầu cấp mã M gồm 5 con số.
Mã số EAN-8 gồm 8 con số có cấu tạo như sau:
Ba số đầu là mã số quốc gia giống như EAN-13
Bốn số sau là mã mặt hàng
Số cuối cùng là số kiểm tra
Mã EAN-8 chỉ sử dụng trên những sản phẩm có kích thước nhỏ, không đủ chỗ ghi mã EAN-13 (ví dụ như thỏi son, chiếc bút bi). Các doanh nghiệp muốn sử dụng mã số EAN-8 trên sản phẩm của mình cần làm đơn xin mã tại Tổ chức mã số quốc gia (EAN-VN). Tổ chức mã số quốc gia sẽ cấp trực tiếp và quản lý mã số mặt hàng (gồm 4 con số) cụ thể cho doanh nghiệp.
Mã vạch là một nhóm các vạch và khoảng trống song song đặt xen kẽ dùng để thể hiện mã số dưới dạng máy quét có thể đọc được.
Mã vạch thể hiện mã số EAN gọi là mã vạch EAN. Trong mã vạch EAN, mỗi con số được thể hiện bằng hai vạch và hai khoảng trống theo ba phương án khác nhau (Set A, B, C). Mỗi mã vạch hay khoảng trống có chiều rộng từ 1 đến 4 môđun. Như vậy mã vạch EAN thuộc loại mã đa chiều rộng, mỗi môđun có chiều rộng tiêu chuẩn là 0,33 mm.
Mã vạch EAN là loại mã vạch sử dụng riêng để thể hiện mã số EAN. mã vạch EAN có những tính chất sau đây:
Chỉ thể hiện các con số (từ O đến 9) với chiều dài cố định (13 hoặc 8 con số) Là mã đa chiều rộng, tức là mỗi vạch (hay khoảng trống) có thể có chiều rộng từ 1 đến 4 môđun.
Do vậy, mật độ mã hoá cao nhưng độ tin cậy tương đối thấp, đòi hỏi có sự chú ý đặc biệt khi in mã.
Mã vạch EAN có cấu tạo như sau: Kể từ bên trái, khu vực để trống không ghi ký hiệu nào cả, ký hiệu bắt đầu, ký hiệu dãy số bên trái, ký hiệu phân cách, ký hiệu dãy số bên phải, số kiểm tra, ký hiệu kết thúc, sau đó là khoảng trống bên phải. Toàn bộ khu vực mã vạch EAN-13 tiêu chuẩn có chiều dài 37,29 mm và chiều cao là 25,93mm.
Mã vạch EAN-8 có cấu tạo tương tự nhưng chỉ có chiều dài tiêu chuẩn là 26,73mm và chiều cao 21,31mm.
Làm thế nào để có mã số mã vạch trên sản phẩm
Muốn có mã số mã vạch trên hàng hoá để xuất khẩu hay bán tại các siêu thị, trước tiên các doanh nghiệp phải gia nhập EAN Việt Nam. EAN Việt Nam sẽ cấp mã M cho doanh nghiệp và hướng dẫn doanh nghiệp lập mã mặt hàng (mã I) cho từng sản phẩm. Để được là thành viên của EAN Việt Nam, doanh nghiệp sẽ phải đóng phí gia nhập và phí hàng năm. Hai loại phí này do đại hội các thành viên quyết định, được ghi trong điều lệ của EAN Việt Nam và có thể thay đổi sau một thời gian áp dụng.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của doanh nghiệp khi áp dụng mã số mã vạch là quản lý mã mặt hàng (mã I) của mình theo nguyên tắc mỗi mã số tương ứng với một loại sản phẩm duy nhất, không được nhầm lẫn. Những sản phẩm khác nhau về tính chất (ví dụ như bia và nước ngọt), về khối lượng, về bao gói… đều phải được cho những mã số mặt hàng khác nhau. Những mã số này sẽ sử dụng lâu dài cùng với sự tồn tại của mặt hàng đó. Những mặt hàng này khi được cải tiến (thay đổi trọng lượng, cách bao gói…) đều phải được cấp mã mặt hàng mới.
Căn cứ pháp lý
- Quyết định số 45/2002/QĐ-TTg ngày 27/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ quy định nội dung quản lý nhà nước về mã số mã vạch.
- Quyết định số 15/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về việc cấp và quản lý mã số mã vạch.
- Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.
- Thông tư số 36/2007/TT-BTC ngày 11/4/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.
Hồ sơ đăng ký
Quý khách hàng khi muốn đăng ký mã số mã vạch (MSMV) cần có những giấy tờ sau:
Giấy phép đăng kí kinh doanh (02 bản, sao y bản chính);
Bản đăng ký mã số mã vạch (MSMV) theo mẫu quy định của Bộ khoa học & công nghệ; (Topiclaw soạn thảo).
Bảng đăng ký danh mục sản phẩm sử dụng mã số mã vạch (MSMV) (Topiclaw soạn thảo).
Phiếu đăng ký thông tin cho cơ sở dữ liệu của GS1 Việt Nam. (Topiclaw soạn thảo).
Giấy tờ cần cung cấp
a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thương mại hoặc bản sao Quyết định thành lập đối với các tổ chức khác;
b) Danh sách sản phẩm xin cấp mã số mã vạch.
Tiện lợi khi đăng ký mã vạch cho sản phẩm
Trong mỗi quốc gia, các doanh nghiệp, các nhà cung cấp sẽ thuận lợi khi quản lý, phân phối; biết được xuất xứ, nguồn gốc của mỗi loại sản phẩm.
Trong giao lưu thương mại quốc tế, các nhà sản xuất, các nhà cung cấp tránh được các hiện tượng gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng; sản phẩm hàng hóa có thể lưu thông trôi nổi toàn cầu mà vẫn biết được lai lịch của nó cũng như đảm bảo độ chính xác về giá cả và thời gian giao dịch rất nhanh.
Trong giao dịch mua bán, kiểm soát được tên hàng, mẫu mã, quy cách, giá cả xuất, nhập kho hàng không bị nhầm lẫn và nhanh chóng, thuận tiện.
- Hiệu suất : Nhận dạng tự động thay thế ghi chép bằng tay nên giúp giảm nhân công, tiết kiệm thời gian, dẫn đến tăng hiệu suất công việc.
- Chính xác: với cấu trúc được tiêu chuẩn hoá, an toàn và đơn giản Mã số Mã vạch cho phép nhận dạng chính xác vật phẩm và dịch vụ, thay thế khâu “nhập” và “truy cập” dữ liệu bằng tay, do đó cho “kết quả”chính xác, không nhầm lẫn.
- Thông tin nhanh: Mã số mã vạch giúp thu thập và cung cấp thông tin nhanh, giúp cho các nhà kinh doanh và quản lý có thể có những quyết định đúng đắn và kịp thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý.
- Thoã mãn khách hàng: Do tính hiệu suất, chính xác, thông tin nhanh, Mã số mã vạch giúp đáp ứng khách hàng về mặt thời gian, số lượng hàng, chủng loại, về chất lượng hàng và dịch vụ, tính tiền nhanh và chính xác, hướng dẫn lựa chọn hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu.
Bên cạnh đó, Công nghệ Mã số mã vạch còn là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu trong kinh doanh, nâng cao lợi ích kinh tế và uy tín thương mại của Doanh nghiệp vì:
+ Do có những tính ưu việt trên, Mã số mã vạch EAN được chấp nhận ở mọi điểm trong “chuỗi cung ứng” quốc tế và trong mỗi quốc gia thành viên.
+ Trong dịch vụ trao đổi thông tin điện tử, Mã số mã vạch là ngôn ngữ quốc tế để soạn thảo các gói tin (messages) về đơn hàng, vận chuyển, thanh toán, nghiên cứu thị trường, đối tác, khiếu nại… Đây là điều kiện không thể thiếu được và là một thách thức với các bên tham gia vào thương mại điện tử toàn cầu.
+ Do đáp ứng được yêu cầu khách hàng, Mã số mã vạch có thể tạo điều kiện mở rộng thị phần, tham gia vào thị trường quốc tế và đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu.
Ngoài ra, Mã số mã vạch cũng là công cụ hữu ích trong việc quản lý hoạt động nội bộ của Doanh nghiệp như: theo dõi và điều hành quá trình xuất nhập nguyên vật liệu; quản lý kho; quản lý nhân sự, quản lý vốn kinh doanh…
Đối với Việt Nam, đi theo mã vạch là mã số có 3 chữ số 893, Trung Quốc có mã số 690, Singapore có mã số 888, Vương quốc Anh có mã số 50, các quốc gia Bắc Mỹ thì đăng ký mã số (UPC) của Hoa Kỳ.
Liên hệ ngay với Topiclaw để được tư vấn trực tiếp nếu bạn gặp các thắc về thủ tục hồ sơ !
Sau đây chúng tôi xin được trích một số tài liệu thông tin liên quan tới việc đăng ký mã vạch.
Mã vạch là gì
Mã số mã vạch là một trong những công nghệ nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động dựa trên nguyên tắc: đặt cho đối tượng cần quản lý một dãy số (hoặc dãy chữ và số), sau đó thể hiện dưới dạng mã vạch để máy quét có thể đọc được.
Trong quản lý hàng hoá người ta gọi dãy số và dãy vạch đó là mã số mã vạch (MSMV) của hàng hoá.
Mã số mã vạch đầu tiên được chế tạo và đưa vào sử dụng trên thế giới từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ 20.
Một ví dụ về Mã vạch của sản phẩm
Do yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại, công nghệ mã số mã vạch ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện, phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới. Năm 1973 tổ chức MSMV đầu tiên được thành lập, đó là Hội đồng mã thống nhất của Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC).
Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu âu (EAN) ra đời do sáng kiến của 12 nước Châu Âu, đến năm 1984 đổi thành EAN International, là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động trên cơ sở trung lập với mục đích chính là đẩy mạnh áp dụng hệ thống EAN trên toàn cầu trong tất cả các ngành kinh tế – xã hội nhằm cung cấp ngôn ngữ chung cho thương mại quốc tế (đặc biệt là thương mại điện tử. . .). Từ năm 2005, hai tổ chức EAN International và UCC hợp nhất thành một tổ chức phân định toàn cầu có tên là GS1.
Mã số GS1 (ví dụ như mã thương phẩm, viết tắt là GTIN) là một dãy chữ số nguyên, trong đó có các nhóm số để chứng minh về xuất xứ hàng hoá: đây là sản phẩm gì? do công ty nào xuất? công ty đó thuộc quốc gia nào?. Do cách đánh số như vậy, mỗi loại hàng hoá sẽ có dãy số duy nhất để nhận dạng đơn nhất trên toàn thế giới. Đây là một cấu trúc mã số tiêu chuẩn dùng để nhận dạng sản phẩm hàng hoá trên các quốc gia (vùng) khác nhau, tương tự như cấu trúc mã số điện thoại để liên lạc quốc tế.
Mã vạch GS1 (bar Code) là một dãy các vạch và khoảng trống song song xen kẽ được thiết kế theo một nguyên tắc mã hoá nhất định để thể hiện mã số (hoặc cả chữ lẫn số) dưới dạng các thiết bị đọc có gắn đầu Laser (Scanner) nhận và đọc được. Thiết bị đọc được kết nối với máy tính và mã vạch được giải mã thành dãy số một cách tự động, gọi ra tiệp dữ liệu liên quan đến hàng hoá đang lưu trữ trong cơ sở dữ liệu về sản phẩm hàng hóa.
Như vậy, mã số GS1 đóng vai trò “chìa khoá” để thu nhận và tra cứu dữ liệu một cách tự động.
Tích chất của mã vạch trên hàng hoá
Nó là con số duy nhất đặc trưng cho hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá được nhận diện bởi một dãy số và mỗi dãy số chỉ tương ứng với một loại hàng hoá.
Bản thân mã số chỉ là một dãy số đại diện cho hàng hoá, không liên quan đến đặc điểm của hàng hoá. Nó không phải là số phân loại hay chất lượng của hàng hoá, trên mã số cũng không có giá cả của hàng hoá.
Các hệ thống mã vạch
Hiện nay, trong thương mại trên toàn thế giới chủ yếu áp dụng hai hệ thống mã số hàng hoá sau:
Hệ thống UPC (Universal Product Code) là hệ thống thuộc quyền quản lý của Hội đồng mã thống nhất Mỹ UCC (Uniform Code Council, Inc.), được sử dụng từ năm 1970 và hiện vẫn đang sử dụng ở Mỹ và Canada.
Hệ thống EAN (European Article Number) được thiết lập bởi các sáng lập viên là 12 nước châu Âu với tên gọi ban đầu là Hội EAN (European Article Numbering Association), được sử dụng từ năm 1974 ở châu Âu và sau đó phát triển nhanh chóng, được áp dụng ở hầu hết các nước trên thế giới. Chính vì lý do này nên từ năm 1977, EAN trở thành một tổ chức quốc tế với tên gọi EAN quốc tế (EAN International)
Giới thiệu về hệ thống EAN
Trong hệ thống mã số EAN cho sản phẩm bán lẻ có hai loại, một loại sử dụng 13 con số (EAN-13) và loại kia sử dụng 8 con số (EAN-8)
Mã số EAN-13 gồm 13 con số có cấu tạo như sau: từ trái sang phải
Mã quốc gia: hai hoặc ba con số đầu
Mã doanh nghiệp: có thể gồm từ bốn, năm hoặc sáu con số
Mã mặt hàng: có thể là năm, bốn, hoặc ba con số tùy thuộc vào mã doanh nghiệp
Số cuối cùng là số kiểm tra
Để đảm bảo tính thống nhất và tính đơn nhất của mã số, mã quốc gia phải do tổ chức mã số vật phẩm quốc tế cấp cho các quốc gia là thành viên của tổ chức này. Mã số quốc gia của Việt Nam là 893. Danh mục mã số quốc gia của các nước trong phụ lục kèm theo.
Mã doanh nghiệp do tổ chức mã số vật phẩm quốc gia cấp cho các nhà sản xuất là thành viên của họ. ở Việt Nam, mã doanh nghiệp do EAN-VN cấp cho các doanh nghiệp thành viên của mình.
Mã mặt hàng do nhà sản xuất quy định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải đảm bảo mỗi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.
Số kiểm tra C là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra việc ghi đúng những con số nói trên.
Từ năm 1995 đến tháng 3/1998, EAN-VN cấp mã M gồm bốn con số và từ tháng 3/1998, theo yêu cầu của EAN quốc tế, EAN-VN bắt đầu cấp mã M gồm 5 con số.
Mã số EAN-8 gồm 8 con số có cấu tạo như sau:
Ba số đầu là mã số quốc gia giống như EAN-13
Bốn số sau là mã mặt hàng
Số cuối cùng là số kiểm tra
Mã EAN-8 chỉ sử dụng trên những sản phẩm có kích thước nhỏ, không đủ chỗ ghi mã EAN-13 (ví dụ như thỏi son, chiếc bút bi). Các doanh nghiệp muốn sử dụng mã số EAN-8 trên sản phẩm của mình cần làm đơn xin mã tại Tổ chức mã số quốc gia (EAN-VN). Tổ chức mã số quốc gia sẽ cấp trực tiếp và quản lý mã số mặt hàng (gồm 4 con số) cụ thể cho doanh nghiệp.
Mã vạch là một nhóm các vạch và khoảng trống song song đặt xen kẽ dùng để thể hiện mã số dưới dạng máy quét có thể đọc được.
Mã vạch thể hiện mã số EAN gọi là mã vạch EAN. Trong mã vạch EAN, mỗi con số được thể hiện bằng hai vạch và hai khoảng trống theo ba phương án khác nhau (Set A, B, C). Mỗi mã vạch hay khoảng trống có chiều rộng từ 1 đến 4 môđun. Như vậy mã vạch EAN thuộc loại mã đa chiều rộng, mỗi môđun có chiều rộng tiêu chuẩn là 0,33 mm.
Mã vạch EAN là loại mã vạch sử dụng riêng để thể hiện mã số EAN. mã vạch EAN có những tính chất sau đây:
Chỉ thể hiện các con số (từ O đến 9) với chiều dài cố định (13 hoặc 8 con số) Là mã đa chiều rộng, tức là mỗi vạch (hay khoảng trống) có thể có chiều rộng từ 1 đến 4 môđun.
Do vậy, mật độ mã hoá cao nhưng độ tin cậy tương đối thấp, đòi hỏi có sự chú ý đặc biệt khi in mã.
Mã vạch EAN có cấu tạo như sau: Kể từ bên trái, khu vực để trống không ghi ký hiệu nào cả, ký hiệu bắt đầu, ký hiệu dãy số bên trái, ký hiệu phân cách, ký hiệu dãy số bên phải, số kiểm tra, ký hiệu kết thúc, sau đó là khoảng trống bên phải. Toàn bộ khu vực mã vạch EAN-13 tiêu chuẩn có chiều dài 37,29 mm và chiều cao là 25,93mm.
Mã vạch EAN-8 có cấu tạo tương tự nhưng chỉ có chiều dài tiêu chuẩn là 26,73mm và chiều cao 21,31mm.
Làm thế nào để có mã số mã vạch trên sản phẩm
Muốn có mã số mã vạch trên hàng hoá để xuất khẩu hay bán tại các siêu thị, trước tiên các doanh nghiệp phải gia nhập EAN Việt Nam. EAN Việt Nam sẽ cấp mã M cho doanh nghiệp và hướng dẫn doanh nghiệp lập mã mặt hàng (mã I) cho từng sản phẩm. Để được là thành viên của EAN Việt Nam, doanh nghiệp sẽ phải đóng phí gia nhập và phí hàng năm. Hai loại phí này do đại hội các thành viên quyết định, được ghi trong điều lệ của EAN Việt Nam và có thể thay đổi sau một thời gian áp dụng.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của doanh nghiệp khi áp dụng mã số mã vạch là quản lý mã mặt hàng (mã I) của mình theo nguyên tắc mỗi mã số tương ứng với một loại sản phẩm duy nhất, không được nhầm lẫn. Những sản phẩm khác nhau về tính chất (ví dụ như bia và nước ngọt), về khối lượng, về bao gói… đều phải được cho những mã số mặt hàng khác nhau. Những mã số này sẽ sử dụng lâu dài cùng với sự tồn tại của mặt hàng đó. Những mặt hàng này khi được cải tiến (thay đổi trọng lượng, cách bao gói…) đều phải được cấp mã mặt hàng mới.
Căn cứ pháp lý
- Quyết định số 45/2002/QĐ-TTg ngày 27/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ quy định nội dung quản lý nhà nước về mã số mã vạch.
- Quyết định số 15/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về việc cấp và quản lý mã số mã vạch.
- Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.
- Thông tư số 36/2007/TT-BTC ngày 11/4/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.
Hồ sơ đăng ký
Quý khách hàng khi muốn đăng ký mã số mã vạch (MSMV) cần có những giấy tờ sau:
Giấy phép đăng kí kinh doanh (02 bản, sao y bản chính);
Bản đăng ký mã số mã vạch (MSMV) theo mẫu quy định của Bộ khoa học & công nghệ; (Topiclaw soạn thảo).
Bảng đăng ký danh mục sản phẩm sử dụng mã số mã vạch (MSMV) (Topiclaw soạn thảo).
Phiếu đăng ký thông tin cho cơ sở dữ liệu của GS1 Việt Nam. (Topiclaw soạn thảo).
Giấy tờ cần cung cấp
a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thương mại hoặc bản sao Quyết định thành lập đối với các tổ chức khác;
b) Danh sách sản phẩm xin cấp mã số mã vạch.
Tiện lợi khi đăng ký mã vạch cho sản phẩm
Trong mỗi quốc gia, các doanh nghiệp, các nhà cung cấp sẽ thuận lợi khi quản lý, phân phối; biết được xuất xứ, nguồn gốc của mỗi loại sản phẩm.
Trong giao lưu thương mại quốc tế, các nhà sản xuất, các nhà cung cấp tránh được các hiện tượng gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng; sản phẩm hàng hóa có thể lưu thông trôi nổi toàn cầu mà vẫn biết được lai lịch của nó cũng như đảm bảo độ chính xác về giá cả và thời gian giao dịch rất nhanh.
Trong giao dịch mua bán, kiểm soát được tên hàng, mẫu mã, quy cách, giá cả xuất, nhập kho hàng không bị nhầm lẫn và nhanh chóng, thuận tiện.
- Hiệu suất : Nhận dạng tự động thay thế ghi chép bằng tay nên giúp giảm nhân công, tiết kiệm thời gian, dẫn đến tăng hiệu suất công việc.
- Chính xác: với cấu trúc được tiêu chuẩn hoá, an toàn và đơn giản Mã số Mã vạch cho phép nhận dạng chính xác vật phẩm và dịch vụ, thay thế khâu “nhập” và “truy cập” dữ liệu bằng tay, do đó cho “kết quả”chính xác, không nhầm lẫn.
- Thông tin nhanh: Mã số mã vạch giúp thu thập và cung cấp thông tin nhanh, giúp cho các nhà kinh doanh và quản lý có thể có những quyết định đúng đắn và kịp thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý.
- Thoã mãn khách hàng: Do tính hiệu suất, chính xác, thông tin nhanh, Mã số mã vạch giúp đáp ứng khách hàng về mặt thời gian, số lượng hàng, chủng loại, về chất lượng hàng và dịch vụ, tính tiền nhanh và chính xác, hướng dẫn lựa chọn hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu.
Bên cạnh đó, Công nghệ Mã số mã vạch còn là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu trong kinh doanh, nâng cao lợi ích kinh tế và uy tín thương mại của Doanh nghiệp vì:
+ Do có những tính ưu việt trên, Mã số mã vạch EAN được chấp nhận ở mọi điểm trong “chuỗi cung ứng” quốc tế và trong mỗi quốc gia thành viên.
+ Trong dịch vụ trao đổi thông tin điện tử, Mã số mã vạch là ngôn ngữ quốc tế để soạn thảo các gói tin (messages) về đơn hàng, vận chuyển, thanh toán, nghiên cứu thị trường, đối tác, khiếu nại… Đây là điều kiện không thể thiếu được và là một thách thức với các bên tham gia vào thương mại điện tử toàn cầu.
+ Do đáp ứng được yêu cầu khách hàng, Mã số mã vạch có thể tạo điều kiện mở rộng thị phần, tham gia vào thị trường quốc tế và đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu.
Ngoài ra, Mã số mã vạch cũng là công cụ hữu ích trong việc quản lý hoạt động nội bộ của Doanh nghiệp như: theo dõi và điều hành quá trình xuất nhập nguyên vật liệu; quản lý kho; quản lý nhân sự, quản lý vốn kinh doanh…
Đối với Việt Nam, đi theo mã vạch là mã số có 3 chữ số 893, Trung Quốc có mã số 690, Singapore có mã số 888, Vương quốc Anh có mã số 50, các quốc gia Bắc Mỹ thì đăng ký mã số (UPC) của Hoa Kỳ.
Liên hệ ngay với Topiclaw để được tư vấn trực tiếp nếu bạn gặp các thắc về thủ tục hồ sơ !
VỀ THUẬT NGỮ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Thuật ngữ sở hữu trí tuệ (SHTT) được dùng nhiều lần trong Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN), nhưng có thể có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, bởi vậy phải bàn về cách sử dụng thuật ngữ SHTT và các thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT trong Luật KH&CN (sau đây gọi tắt là Luật) thiết nghĩ là một việc nên làm.
1. “Công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật không?
Luật định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Từ định nghĩa này, có thể đặt câu hỏi: quá trình từ sản phẩm mà tìm ra các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… thì có gọi là “công nghệ” không? Trong lĩnh vực SHTT người ta gọi quá trình này là Reverse Engineering[2] (tạm dịch là “công nghệ ngược”), nó có liên quan đến 2 đối tượng được bảo hộ quyền SHTT là sáng chế và bí mật kinh doanh.
Phải bàn đến “công nghệ ngược”, bởi lẽ một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm là hành vi bất hợp pháp. Nhưng mọi thông tin có liên quan đến công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm lại là hành vi hợp pháp.
Bởi vậy, “công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hay không là một việc nên xem xét, còn gọi cụ thể nó là thì cần một nghiên cứu khác sâu hơn.
2. Xác định các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học
Luật định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.
Theo các quy định về SHTT thì các sản phẩm của hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy là các tác phẩm khoa học (ví dụ phát minh khoa học), chúng được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản[3]. Còn các sản phẩm của quá trình sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng…
Việc bảo hộ quyền SHTT đối với các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học nói trên theo quy định của Luật SHTT rất khác nhau. Bởi vậy việc xác định các sản phẩm cụ thể của quá trình nghiên cứu khoa học như những đối tượng điều chỉnh của Luật là một việc nên làm.
3. Tổ chức khoa học và công nghệ
Theo điều 9.1 của Luật, thì các tổ chức KH&CN bao gồm:
a) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;[4]
b) Trường đại học, học viện, trường cao đẳng;
c) Tổ chức dịch vụ KH&CN.
Trong các tổ chức trên thì Tổ chức dịch vụ KH&CN được hoạt động dịch vụ KH&CN, đó là “các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến SHTT, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn”.
Mặc dù tiến hành các hoạt động liên quan đến SHTT, nhưng cần nhấn mạnh rằng các hoạt động này của Tổ chức dịch vụ KH&CN không tạo ra các sản phẩm là các đối tượng được bảo hộ quyền SHTT. Dẫn đến việc quy định Tổ chức dịch vụ KH&CN “Được bảo hộ quyền SHTT;…” tại điều 15.4 của Luật là không chính xác. Quy định này chỉ đúng với trường hợp Tổ chức KH&CN là Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học, học viện, trường cao đẳng.
Bởi vậy, cần quy định lại mục 1 chương II của Luật hoặc cần có quy định loại trừ tại điều 15.4 của Luật.
4. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã là một loại tài sản
Khi nói về quyền của tổ chức KH&CN, quyền của cá nhân hoạt động KH&CN tại các điều 15.3 và 17.4, Luật quy định được“… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
SHTT trong tiếng Anh là Intellectual Property, vì vậy bản chất quyền SHTT đã là một dạng quyền tài sản. Theo các quy định của pháp luật thì tài sản gồm có tài sản hữu hình (động sản và bất động sản), tài sản vô hình (trong đó có tài sản trí tuệ). Như vậy tài sản trí tuệ là một bộ phận của tài sản nói chung, vì thế khi viết “… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT…” là chưa thật chính xác [5].
Bởi vậy, có lẽ cần chỉnh lại các quy định tại các điều 15.3 và 17.4 của Luật cho chính xác.
5. Quyền sở hữu, quyền tác giả hay quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả?
Điều 26 của Luật viết: “Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: 1. Tổ chức, cá nhân đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện công trình KH&CN là tác giả của công trình đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng KH&CN”.
Trong lĩnh vực SHTT, quyền SHTT bao gồm 3 nhóm:
1. “Quyền tác giả” đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
2. “Quyền sở hữu công nghiệp” đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh;
3. “Quyền đối với giống cây trồng”.
Khi dùng thuật ngữ “quyền tác giả” tại điều 26 rất dễ nhầm lẫn rằng Luật chỉ điều chỉnh các sản phẩm nghiên cứu khoa học thuộc nhóm 1, trong khi đó các sản phẩm nghiên cứu khoa học có thể thuộc cả 3 nhóm trên. Cũng cần nói thêm rằng quyền tác giả và quyền của tác giả, quyền sở hữu và quyền của chủ sở hữu là các thuật ngữ rất khác nhau.
Bởi vậy, nên sửa lại phần mở đầu điều 26 của Luật là Quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Nhân đây cũng nên bàn thêm là, nếu chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN thì tác giả cũng đầu tư để thực hiện công trình KH&CN, nhưng tác giả thì đầu tư trí tuệ, còn chủ sở hữu thì đầu tư tài chính, cơ sở vật chất… để tạo ra sản phẩm. Bởi vậy, điều 26.1 của Luật nên viết lại là “Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ…”.
Trên đây là một số góp ý có liên quan đến thuật ngữ SHTT được dùng trong Luật KH&CN để hoàn thiện Luật. Tác giả không có ý muốn dùng Luật SHTT để điều chỉnh Luật KH&CN, nhưng cần phải hiểu chính xác thuật ngữ SHTT và một số thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT là một việc cần thiết.,.
1. “Công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật không?
Luật định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Từ định nghĩa này, có thể đặt câu hỏi: quá trình từ sản phẩm mà tìm ra các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… thì có gọi là “công nghệ” không? Trong lĩnh vực SHTT người ta gọi quá trình này là Reverse Engineering[2] (tạm dịch là “công nghệ ngược”), nó có liên quan đến 2 đối tượng được bảo hộ quyền SHTT là sáng chế và bí mật kinh doanh.
Phải bàn đến “công nghệ ngược”, bởi lẽ một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm là hành vi bất hợp pháp. Nhưng mọi thông tin có liên quan đến công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm lại là hành vi hợp pháp.
Bởi vậy, “công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hay không là một việc nên xem xét, còn gọi cụ thể nó là thì cần một nghiên cứu khác sâu hơn.
2. Xác định các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học
Luật định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.
Theo các quy định về SHTT thì các sản phẩm của hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy là các tác phẩm khoa học (ví dụ phát minh khoa học), chúng được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản[3]. Còn các sản phẩm của quá trình sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng…
Việc bảo hộ quyền SHTT đối với các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học nói trên theo quy định của Luật SHTT rất khác nhau. Bởi vậy việc xác định các sản phẩm cụ thể của quá trình nghiên cứu khoa học như những đối tượng điều chỉnh của Luật là một việc nên làm.
3. Tổ chức khoa học và công nghệ
Theo điều 9.1 của Luật, thì các tổ chức KH&CN bao gồm:
a) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;[4]
b) Trường đại học, học viện, trường cao đẳng;
c) Tổ chức dịch vụ KH&CN.
Trong các tổ chức trên thì Tổ chức dịch vụ KH&CN được hoạt động dịch vụ KH&CN, đó là “các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến SHTT, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn”.
Mặc dù tiến hành các hoạt động liên quan đến SHTT, nhưng cần nhấn mạnh rằng các hoạt động này của Tổ chức dịch vụ KH&CN không tạo ra các sản phẩm là các đối tượng được bảo hộ quyền SHTT. Dẫn đến việc quy định Tổ chức dịch vụ KH&CN “Được bảo hộ quyền SHTT;…” tại điều 15.4 của Luật là không chính xác. Quy định này chỉ đúng với trường hợp Tổ chức KH&CN là Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học, học viện, trường cao đẳng.
Bởi vậy, cần quy định lại mục 1 chương II của Luật hoặc cần có quy định loại trừ tại điều 15.4 của Luật.
4. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã là một loại tài sản
Khi nói về quyền của tổ chức KH&CN, quyền của cá nhân hoạt động KH&CN tại các điều 15.3 và 17.4, Luật quy định được“… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
SHTT trong tiếng Anh là Intellectual Property, vì vậy bản chất quyền SHTT đã là một dạng quyền tài sản. Theo các quy định của pháp luật thì tài sản gồm có tài sản hữu hình (động sản và bất động sản), tài sản vô hình (trong đó có tài sản trí tuệ). Như vậy tài sản trí tuệ là một bộ phận của tài sản nói chung, vì thế khi viết “… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT…” là chưa thật chính xác [5].
Bởi vậy, có lẽ cần chỉnh lại các quy định tại các điều 15.3 và 17.4 của Luật cho chính xác.
5. Quyền sở hữu, quyền tác giả hay quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả?
Điều 26 của Luật viết: “Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: 1. Tổ chức, cá nhân đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện công trình KH&CN là tác giả của công trình đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng KH&CN”.
Trong lĩnh vực SHTT, quyền SHTT bao gồm 3 nhóm:
1. “Quyền tác giả” đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
2. “Quyền sở hữu công nghiệp” đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh;
3. “Quyền đối với giống cây trồng”.
Khi dùng thuật ngữ “quyền tác giả” tại điều 26 rất dễ nhầm lẫn rằng Luật chỉ điều chỉnh các sản phẩm nghiên cứu khoa học thuộc nhóm 1, trong khi đó các sản phẩm nghiên cứu khoa học có thể thuộc cả 3 nhóm trên. Cũng cần nói thêm rằng quyền tác giả và quyền của tác giả, quyền sở hữu và quyền của chủ sở hữu là các thuật ngữ rất khác nhau.
Bởi vậy, nên sửa lại phần mở đầu điều 26 của Luật là Quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Nhân đây cũng nên bàn thêm là, nếu chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN thì tác giả cũng đầu tư để thực hiện công trình KH&CN, nhưng tác giả thì đầu tư trí tuệ, còn chủ sở hữu thì đầu tư tài chính, cơ sở vật chất… để tạo ra sản phẩm. Bởi vậy, điều 26.1 của Luật nên viết lại là “Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ…”.
Trên đây là một số góp ý có liên quan đến thuật ngữ SHTT được dùng trong Luật KH&CN để hoàn thiện Luật. Tác giả không có ý muốn dùng Luật SHTT để điều chỉnh Luật KH&CN, nhưng cần phải hiểu chính xác thuật ngữ SHTT và một số thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT là một việc cần thiết.,.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)